1. Về chế độ đảm bảo xã hội (ĐBXH)
Những chế độ ĐBXH của Nhật Bản thay đổi từ chỗ chỉ trợ giúp cho người nghèo đến việc đề ra những chính sách chung, rộng rãi để cho tất cả mọi người cần giúp đỡ đều có thể nhận những dịch vụ xã hội và lợi ích bất kể mức thu nhập thế nào. Lợi ích ĐBXH cho người già được mở rộng trong những năm gần đây, chiếm gần 2/3 tổng lợi ích ĐBXH. Từ những năm 1980 đến nay Nhà nước đã đề ra rất nhiều biện pháp cho lĩnh vực ĐBXH trong thế kỷ 21.
Những biện pháp này bao gồm: thiết lập dịch vụ y tế cho người già, hình thành và đề cao chiến lược 10 năm tăng cường chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi cho người già (kế hoạch vàng, kế hoạch vàng mới), cải thiện phúc lợi các vùng do địa phương quản lý, xem xét lại hệ thống hưu trí, hình thành luật cơ bản về chiến lược xã hội người cao tuổi, thiết lập hệ thống bảo hiểm chăm sóc lâu dài... Nhờ những cố gắng này, cuộc sống của các gia đình chỉ có người già được ổn định và hệ thống ĐBXH cho người già đã ngày càng được hoàn thiện về cơ cấu cũng như nội dung. Tuy nhiên, hiện nay nhiều người vẫn cảm thấy lo lắng cho tương lai của hệ thống ĐBXH đối với cuộc sống của mình. Theo cuộc điều tra về chế độ ĐBXH của Chính phủ thì lý do cơ bản nhất của sự lo lắng là "không có gì đảm bảo rằng chúng ta có thể hưởng lợi ích ngay cả khi có đóng bảo hiểm xã hội" (79%), tiếp theo là lý do "thuế và đóng góp cho bảo hiểm ngày càng tăng và gánh nặng ngày càng trở nên nặng hơn" (75,5%), "mức hưởng hưu trí giảm liên tục và sự chi trả cho y tế đang ngày một tăng" (65,4%), "sự duy trì chế độ đảm bảo xã hội, kể cả chế độ lương hưu trở nên khó khăn vì sự tăng trưởng kinh tế chậm chạp" (53%), và "gánh nặng của ĐBXH nặng nề hơn đối với những thế hệ trẻ và đặc biệt giữa các thế hệ sẽ tăng" (49,4%).
Tuy vậy, vẫn có cách nhìn lạc quan hơn về tương lai xã hội Nhật Bản trong thế kỷ 21. Trước hết, mặc dù gánh nặng có tăng lên cùng với quá trình lão hoá của xã hội có ít trẻ em thì cũng chưa đến nỗi quá sức vì so với Mỹ và các nước châu Âu, việc tiêu dùng của người dân Nhật Bản và gánh nặng của hệ thống ĐBXH trong thu nhập quốc dân còn thấp. Tiếp theo là người ta có thể hy vọng rằng người già sẽ năng động hơn trước và trong tương lai, người già sẽ trở thành những người quan trọng đóng góp cho xã hội nhiều hơn là nhận sự trợ giúp của xã hội. Một lý do nữa là, Nhật Bản có thể xây dựng hệ thống ĐBXH duy trì sự cân đối giữa lợi ích và gánh nặng giữa các thế hệ, không đặt gánh nặng lên một thế hệ đặc biệt nào qua việc tiến hành cải cách cơ cấu ĐBXH, nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống, góp phần cân đối với ngân sách kinh tế đồng thời đáp ứng được các yêu cầu chính đáng của mọi người đối với hệ thống ĐBXH.
2. Về gánh nặng và lợi ích của chương trình đảm bảo xã hội giữa các thế hệ
Hiện nay có sự chuyển dịch thu nhập quá mức từ các thế hệ đang làm việc sang thế hệ già. Vì vậy, cần phải đánh giá, xem xét lại mức lợi ích và gánh nặng đối với người già và tiến hành điều chỉnh giữa các chương trình như hưu trí, y tế và bảo hiểm chăm sóc lâu dài để chế độ ĐBXH phù hợp hơn và giảm gánh nặng cho các thế hệ trẻ và do đó đảm bảo cân đối lợi ích và gánh nặng giữa các thế hệ.
Đối với người làm việc tuổi từ 20 đến 50 thì gánh nặng vượt quá lợi ích. Lợi ích trực tiếp chỉ giới hạn là những dịch vụ y tế. Gánh nặng tăng dần lên đối với người làm theo tuổi tác cho đến một độ tuổi nhất định. Những người từ 50 đến 55 tuổi phải trả 1,35 triệu yên hàng năm cho phí bảo hiểm và những khoản thuế trực tiếp. Thêm vào đó họ còn phải trả chi phí chăm sóc con cái, chi phí giáo dục và mua nhà. So với thế hệ già thì họ là những lao động chính của xã hội, phải chia sẻ gánh nặng của phí bảo hiểm xã hội và các loại thuế để cung cấp nguồn tài chính chi trả cho tiền hưu và chăm sóc y tế.
Thực tế, thuế chính là nguồn tài chính giúp cho việc chi tiêu đa dạng của Chính phủ bên cạnh việc chi trả cho lợi ích ĐBXH. Những người già có xu hướng hưởng lợi nhiều hơn là phải chịu gánh nặng của chương trình ĐBXH. Có những hộ người già có xu hướng nhận trợ giúp công cộng trong thời gian dài, thậm chí 1/2 số hộ người già nhận trợ giúp công cộng trên 10 năm. Do đó chương trình trợ giúp công cộng đã đảm bảo thu nhập cho những người không có lương hưu hoặc không có khả năng tự lập. Khi trở thành người già, gánh nặng về thuế, phí bảo hiểm xã hội và phí y tế giảm xuống. Số lượng giảm từ 350.000 yên đối với người ở độ tuổi 60 xuống 250.000 khi đến độ tuổi 70 và họ sẽ nhận được mức tiền hưu là 2 triệu yên và 760.000 yên qua lợi ích của bảo hiểm y tế. Như vậy, thế hệ đang làm việc chịu hầu hết gánh nặng trừ những dịch vụ cung cấp cho con cái họ và người già phần lớn hưởng lợi ích của chương trình này.
Những hộ có chủ hộ là người trên 60 tuổi cũng hưởng lợi nhiều hơn gánh nặng. Lợi ích đối với những hộ có chủ hộ ở độ tuổi 60 lớn hơn 1,7 lần lợi ích trung bình, và những hộ có chủ hộ trên 70 tuổi gấp 2,4 lần. Đặc biệt, các dịch vụ y tế cung cấp cho những hộ trên 70 tuổi lớn hơn nhiều so với những hộ trẻ.
Nếu không tính lợi ích và gánh nặng của ĐBXH thì thu nhập ban đầu của những hộ có chủ hộ trên 60 tuổi nhỏ hơn thu nhập sau khi phân phối lại thu nhập qua lợi ích ĐBXH. Có nghĩa là lợi ích của ĐBXH có ảnh hưởng làm tăng thu nhập của những hộ người già. Ảnh hưởng của phân phối lại (tỉ lệ khác biệt giữa thu nhập ban đầu với thu nhập sau khi phân phối lại thu nhập ban đầu) của hộ 60 - 69 tuổi là 23,4% và những hộ trên 70 tuổi là 86%. Với các nhóm tuổi dưới 59, sự phân phối lại là âm, nghĩa là lượng thuế và phí bảo hiểm xã hội vượt quá mức hưởng lợi từ ĐBXH. Do đó, sự phân tích qua các nhóm tuổi chủ hộ chỉ ra rằng thu nhập được phân phối lại từ các hộ đang làm việc sang các hộ thế hệ già hơn.
Theo ước tính thì thu nhập theo đầu người ban đầu đạt tới đỉnh cao khi các thành viên trong hộ ở độ tuổi 50 và giảm nhanh sau 60 tuổi. Nếu trung bình của cả nhóm là 100 thì thu nhập theo đầu người là 66 đối với nhóm tuổi 65-69, 53 đối với nhóm tuổi 70-74, 54 đối với nhóm tuổi 75-79. Sau khi phân phối lại, thu nhập được cải thiện rõ rệt. Nếu thu nhập bình quân các nhóm là 100 thì sau khi phân phối lại là 111 đối với nhóm tuổi 65-69, 115 đối với nhóm tuổi 70-74, và 117 đối với nhóm tuổi 75-79. Những số này lớn hơn trung bình hơn 10%. Ngược lại nhóm tuổi từ 30-34 thu nhập theo đầu người sau khi phân phối lại là 97, nhóm tuổi 35-39 là 90 và nhóm tuổi 40-44 là 87. Những con số này không những nhỏ hơn trung bình mà còn thấp so với thế hệ già hơn. Đối với thế hệ trẻ hơn, ở độ tuổi 30 và hơn 40, thu nhập trung bình theo đầu người thấp, phản ánh một thực tế rằng những nhóm này phải chi dùng nhiều hơn cho đời sống hàng ngày và nuôi con. Thêm vào đó, thu nhập giảm do còn có gánh nặng như thuế và bảo hiểm xã hội. Đối với các nhóm già hơn thu nhập theo đầu người tăng sau khi phân phối lại vì có tiền hưu và lợi ích y tế.
3. Những tồn tại của hệ thống đảm bảo xã hội và hướng giải quyết
Để duy trì chế độ ĐBXH và sự cân đối giữa lợi ích và gánh nặng của chế độ này giữa các thế hệ, Nhật Bản đã tiến hành điều chỉnh chế độ ĐBXH trong những năm gần đây. Vấn đề lớn nhất là gánh nặng về tài chính do việc tăng lợi ích ĐBXH cho người già. Hiện nay, Nhật Bản đã đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu liên quan đến ĐBXH:
- Điều chỉnh lại chế độ hưu trí
- Sửa đổi chế độ y tế
- Thiết lập chương trình bảo hiểm chăm sóc lâu dài
Trong những năm 1990 mức tăng trung bình hàng năm của lợi ích ĐBXH cho người già là 7%, trong khi thu nhập theo hộ của thế hệ đang làm việc là 2%. Việc phân tích thu nhập theo đầu người thể hiện mức thu nhập của người già cao hơn thế hệ trẻ, những người phải chịu gánh nặng về thuế và phí bảo hiểm xã hội. Do vậy, có sự chuyển dịch quá mức thu nhập của thế hệ làm việc sang người già. Để giải quyết tình trạng này, Nhật Bản thấy cần phải có sự chia sẻ trách nhiệm chung, trách nhiệm giữa các thế hệ và đánh giá, xem xét lại mức lợi ích của các chương trình, cách hỗ trợ tài chính cho các chương trình, kể cả các phương án về thuế tiêu dùng.
Còn một tồn tại nữa là trong các chương trình ĐBXH vẫn có sự chồng chéo lợi ích cho người già. Ví dụ, người già có thể nhận lợi ích từ ba chương trình: hưu trí, bảo hiểm y tế và chăm sóc lâu dài. Khi họ nằm viện lâu dài hoặc sử dụng những ôư sở chăm sóc lâu dài theo chế độ bảo hiểm y tế thì chương trình bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm chăm sóc lâu dài phải thanh toán không những các chi phí thuốc men mà cả chi phí ăn ở. Đồng thời, họ vẫn được nhận tiền hưu trí công cộng. Nếu hưu trí công cộng dựa vào nguồn dự trữ của tiết kiệm cá nhân thì không ảnh hưởng gì. Tuy nhiên, theo chế độ hưu trí hiện tại dựa vào trách nhiệm giữa các thế hệ thì đây lại là vấn đề lợi ích quá mức nên khi chương trình bảo hiểm chăm sóc lâu dài được đưa ra thì cần phải tiến hành điều chỉnh giữa các chương trình. Chế độ ĐBXH phải được thực hiện một cách hiệu quả hơn và phải gắn kết các chương trình hưởng lợi để giảm gánh nặng cho thế hệ đang làm việc.
Nhìn chung, tình hình kinh tế Nhật Bản đã có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa có cơ sở vững chắc. Sự suy thoái kinh tế kéo dài đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội Nhật Bản. Sự thay đổi những giá trị gia đình truyền thống, lối sống của các tầng lớp nhân dân đang ngày càng trở nên phức tạp. Đảm bảo xã hội, một lĩnh vực trước đây được đánh giá là khá tốt ở Nhật Bản thì đến nay cũng gặp phải nhiều vấn đề nan giải mà khó khăn nhất là vấn đề tài chính để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Bên cạnh đó vấn đề làm thế nào để cân đối giữa lợi ích và gánh nặng giữa các thế hệ vẫn là vấn đề của cả xã hội Nhật Bản đã và đang quan tâm tìm cách tháo gỡ.
TS. Trần Thị Nhung
Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản
(Lược trích từ Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 3 – 2003)
Nguồn tin Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
- 20/06/2012 15:16 - CÁC HỆ HỌC CỦA ĐÔNG DU
- 06/07/2010 15:59 - Kimono - Một nét văn hóa Nhật Bản
- 06/07/2010 15:53 - 6 bí quyết thành công trong kinh doanh của người Nhật
- 06/07/2010 15:49 - Phong cách giao tiếp người Nhật
- 06/07/2010 15:43 - Vài nét thú vị về tập tục của người Nhật
- 06/07/2010 15:28 - Lịch sử Nhật Bản qua các thời kỳ
